Người lính giữ ô cửa thời gian
Với tôi, ông bao giờ cũng cổ kính như những mái ngói rêu phong của những ngôi nhà trong khu phố cổ Hà Thành, chảy ầm thầm cùng những dòng sông mang đầy dấu tích huyền thoại. Có người nói ông Tạ Nhẫn, kẻ thì bảo ông là Tạ Nhân, còn với người đã từng một lần đến khu di tích này thì gọi ông là “ông lão kỳ quặc”. Chúng tôi dừng lại chụp vài bức ảnh làm kỷ niệm, rồi cùng ông trò chuyện hàng giờ liền ở đó, hy vọng sẽ được chính ông kể cho nghe về lịch sử thăng trầm của ô cửa này, nhưng chẳng bao giờ ông nói ra. Tôi chỉ biết rằng ông vẫn cổ xưa như phố cố thị thành và công việc thầm lặng của ông đã quá trở nên quen với người Hà Nội 20 năm nay.
Nhưng mà cậu muốn tôi kể cho nghe về điều gì nào? Nhiều người cứ nghĩ Ô Quan Chưởng đã biến mất, rồi chẳng còn nữa, không đúng chút nào. Di sản làm sao mà tính được tuổi chứ? Tôi là lớp người đang già đi như sản kia. Có điều tôi chưa được công nhận là di sản ấy mà. Đặt cốc nước chè ấm sực trong giá lạnh tê tái đang đổ về chầm chậm trên Thủ đô, ông nhìn tôi như muốn hỏi: “Mà cậu còn muốn biết thêm gì nữa không?”. Dạ, có người gọi ông là “ông lão kỳ quặc”. Sao lại là “kỳ quặc” thưa bác?. Ông nhăn mặt. Vậy làm công việc rỗi hơi chẳng phải kỳ quặc sao. Từ “kỳ quặc” được ông nhấn mạnh. Kỳ quặc là điều mà cậu đang thấy tôi làm đó. Chỉ biết thế thôi, đừng hỏi chi nhiều. Nếu muốn biết cái từ “kỳ quặc” có từ khi nào, chẳng khác gì đi tìm câu hỏi “Hà Nội đã có mấy nghìn năm?”.
Thấy tôi như đang bối rối trước cái di tích cổ xưa này, ông dẫn tôi ra phía trước: “Cậu ở đâu mà sao cứ hỏi mãi về Hà Nội?”. “Cụm từ “còn trẻ” được ông kéo dài như cách nói thân mật của người Tràng An xưa. Tôi cảm thấy thật nhỏ bé trước công việc cao cả lúc này của ông. Định rụt rè hỏi thêm vài câu hỏi nữa, thì ông đứng dậy cầm tay - bảo: “Thôi ta đừng ở trong nhà, hãy ra dưới vòm ô cửa cổ kính đó để Hà Nội hiện về trong tâm khảm”.
Ông lão kỳ quặc
Những người từng sống ở Hà Nội 10-20 năm trước, không bao giờ quên hình ảnh: Cứ 6 giờ sáng đến 6 giờ tối mỗi ngày, không quản nắng mưa, trên khu di tích trươn trượt những bậc thềm của Ô Quan Chưởng, có một ông già 80 tuổi, trên tay cầm một chiếc chổi nhỏ, bước những bước thầm lặng, không một tiếng thở dài, chốc chốc lại nhắc nhở một vài vị khách. Đó là “ông lão kỳ quặc”. Dưới mái vòm cổ kính ấy, một mình ông vẫn làm việc lặng lẽ, không đòi hỏi, không tính toán thiệt hơn, chỉ mong là gìn giữ cho Hà Nội một di sản đã mất dấu thời gian. Cứ mỗi lần làm xong một việc, ông lại sẽ sàng bước xuống, lùi lại, ngắm nghía di tích, mỗi một hành động đều dứt khoát, đúng 20 năm. Người dân sống quanh di tích đặc biệt này bao giờ cũng rất quen với ông lão, những người bán hàng rong thì thuộc lòng giờ giấc của những bước chân thầm lặng nơi ông nên chỉ cần nghe tiếng khua chổi lướt trên bậc thêm là họ biết ông đã thức dậy, còn chúng tôi –những người xa lạ với phố phường đã đón nhận từ ông tình cảm gần gũi của một người Hà Nội, chẳng bao giờ mất đi.
Mỗi ngày trông coi di tích, 20 năm qua là bao nhiêu thời gian? Mỗi ngày làm đẹp cho cửa ô duy nhất còn sót lại này, 270 năm ấy, 20 năm qua, ông đi bằng chiều dài của cuộc đời mình rồi?. “Tôi chẳng nhớ nổi đâu?. “Cậu nhìn lên mái tóc của tôi thì biết!”. Tôi nhìn vào gương mặt ông. Đó là một tuổi già đã chứng kiến những đổi thay ở mảnh đất nghìn năm tuổi. Thời gian và hiểu biết của một chứng nhân lịch sử đã in đậm lên lớp gạch vỡ nham nhở kia những lớp vàng son nhọc nhằn của một thời binh lửa. Mấy năm nay, khi gần bước sang tuổi 80, sức khỏe đã khiến ông không thể bước những bước chân nhanh hơn trên ô cửa cổ kính nữa, mà ông đành lùi lại chọn cho mình một góc riêng tư lặng lẽ với quán nước trên con ngõ nhỏ Thanh Hà. Vẫn thức dậy sớm như mọi lần và đi tản bộ quanh di tích. Nếu như trước đây, chẳng có ai nhớ về ông với những công việc thầm lặng ấy, thì bây giờ, người yêu Hà Nội lại tìm đến ông đông hơn. Dưới mái vòng đó, chốc chốc những đoàn khách bộ hành đi qua dừng lại chụp vài bức ảnh. Ông tiến lại gần để giới thiệu rành rọt cho họ quy định của di tích mà chẳng cần trả công...rồi lại tiếp tục quét dọn, nhặt nhạnh những chiếc lá rụng đầy trên lối đi, vài túi nilông mà một vị du khách nào đó đến đây đã vô tình bỏ lại. Tôi đánh bạo hỏi: “Làm sao ông biết họ đến tìm hiểu văn hóa mà hướng dẫn?”.
Ông nhìn tôi với ánh mắt đầy nghi ngại: “Mấy năm trước, cọ dại mọc hoang tàn trên các lối đi, chẳng có ai chăm sóc. Mùa nắng lá rụng đầy trên các lối đi, người ta “nhảy dù” vào lấn chiếm, quán xá bừa bộn, du khách đi qua để lại đầy rác, xú uế. Cơ quan văn hóa cũng đành “bó tay”? Mọi thứ đều bất lực. Tôi cảm thấy khó hiểu. Ông nhìn về phía ô cửa với chút lo lắng: “Giữ gìn di tích là một việc rất khó phải không?”. Dù không vất vả nhưng đỏi hỏi sự kiên chì vì phải tiếp xúc với nhiều người khó tính. Một khi đã làm thì phải tận tâm. Một số người không hiểu vẫn cho tôi là ham thành tích, nhưng tôi cứ im lặng thôi?”. Chị Nguyễn Thu Mai - một người vừa là con vừa là cháu-tâm sự: “Ông là một người lính bình dị, ít nói, những ai muốn tìm hiểu di tích ông luôn sẵn sàng. Cả khu phố Hàng Chiếu này, ai cũng quý mến ông. Tôi quay sang chị hỏi một câu đột ngột: “Có khi nào xảy mâu thuẫn ở đây không?”. Chị nhìn tôi nói thật: “Cũng có nhiều người la mắng, xúc phạm ông nhưng vì việc chung nên ông cũng gạt đi. Ở phố nhỏ này, chăng ai chịu làm việc “bao đồng”, tôi chỉ thấy có mỗi cụ Nhân dám làm thôi. Bảo vệ di tích là trách nhiệm, không tính toán thiệt hơn. Những vị khách phương xa chỉ cần tiếp xúc với ông một lần là quý mến, lần nào cũng muốn ở lại. Lớp trẻ như tôi dù có đầy đủ cũng phải học đức tính cẩn thận của ông”.
Mưa nắng rêu phong
Cứ mỗi lần làm xong một việc, ông lại ngồi tĩnh lặng như thời gian. Nếu không tiếp xúc với ông, nhìn cái dáng vẻ phong trần, vạm vỡ ấy, có thể tôi đã không nhận ra ông. Cả gương mặt của người lính già phảng phát vẻ đẹp cổ kính của một Hà Thành xưa cũ. Lớp rêu phong còn vương vấn đâu đây như lẫn vào phố phường nhộn nhịp, như bao phủ cả cuộc đời ông với những thăng trầm. Không ai nghĩ ở góc phố thân quen này, lại có một cụ già làm công việc thầm lặng đến vậy. Ông giản dị từ bộ quần áo kaki đời thường với những đường may kiểu mới, chiếc mũ phớt bạc màu, cả cách nói chuyện nhẩn nha với khách du lịch cũng rất gần gũi. Ông cẩn trọng nhặt từng cọng rác, túi nylon, đôi tay lấy đi lớp bụi bám trên bậc thềm, nhổ đám dương xỉ mọc hoang tàn giữa các lối đi, rồi chậm rãi bước xuống. Những người từng đến đây chiêm ngưỡng Ô cửa này, ông đều hướng dẫn tỉ mỉ, như một “hướng dẫn” viên già lão luyện. Đoạn, ông lần theo lối cầu thang nhỏ rất nhanh, xếp lại các viên gạch vỡ nham nhở, mà theo cách diễn đạt của ông là để đề phòng bất trắc cho du khách Khi các vị khách cuối cùng rời đi, ông khép lại cánh cửa thật chặt. Tuổi gần 80 rồi mà đôi chân còn dẻo dai lắm. Ông tỉ mỉ nhặt những thứ rác bừa phứa cho vào một góc, dùng chiếc túi buộc chặt lại; còn một vài viên gạch vỡ; ông xếp sắp lại một chỗ. Ông bảo: “Để cho mọi thứ được gọn gàng hơn”. Tôi thấy ông làm việc chẳng có chút nặng nhọc. Vì ông là người tự nguyện, chẳng bao giờ kêu ca, phàn nàn. Ở tuổi “bách niên” rồi mà ông vẫn như một người trai tráng, chẳng thua kém kai. Tôi hỏi một câu: “Cụ làm công việc này được trả bao nhiêu thù lao?”. Ông nghiêm mặt: “Sao lại so đo tiền bạc làm gì!”. Hơn 20 năm trông coi, tiền lương cũng đủ ăn quà sáng”. Tôi đếm trong túi ông đúng 100 nghìn đồng. Vậy là ông mãn nguyện.
Lưu giữ cho mai sau
Muốn dành thời gian để ngồi trò chuyện với ông thật lâu nhưng tôi biết, dù có cố gắng thì tôi vẫn bé nhỏ trước con người vạm vỡ này. Vừa xa lạ vừa gần gũi trước ông lão cổ kính. Trong lúc mỏi mắt tìm con người ấy, một người Hà Nội đã chỉ cho tôi ngôi nhà nơi ông sinh sống. Con ngõ nhỏ luôn vắng bóng người qua trên phố Thanh Hà, tôi ngồi bệt xuống. Quán nước và cũng là ngôi nhà nơi ông sống bao giờ cũng nhỏ bé và khá bình yên. Ông vẫn ngồi đó với quán nước, và chốc chốc lại chạy vụt ra phía trước cái ô cửa cũ kỹ đó, nhắc nhở một vài vị khách giữ trật tự và không vứt rác bữa bãi. Một người sống lâu năm ở đây tiết lộ: “Ông tên là Tạ Văn Nhân, quê gốc ở Hải Dương. Còn bà vợ ông quê Quảng Trị. Sau những khó khăn của đời sống, ông bà ly hương, dắt díu nhau lên Hà Nội sống từ mấy chục năm trước, đẻ mấy mặt con đứa nào cũng khôn lớn trưởng thành hết.Thi thoảng có đứa về thăm, giúi cho ông chút tiền, nhưng ông không nhận, tuổi già sống bình yên là quan trọng. Và, cũng có lúc thấy ông tất bật với công việc chăm sóc cho cái di tích “cổ xưa” này, con cháu cũng can ngăn, nhưng ông vẫn gạt đi. Cứ 6 giờ sáng, thức dậy với quán nước, 356 ngày, ông đều làm việc như một người lao công cần mẫn”.
Tôi hỏi vài người ở đây, họ bảo: “Kỳ quặc là tên gọi mà người ở phố Thanh Hà này dùng để đặt cho ông. Cậu lại hỏi về việc vì sao ông lão ra đây trông coi di tích sao?. Chuyện là thế này. Ngày ấy di tích còn hoang tàn, mùa mưa rêu mọc rậm rịt, người bán hàng rong rồi khách du lịch đi qua để lại rất nhiều rác, làm mất mỹ quan di tích. Cán bộ văn hóa sót ruột lắm, muốn tìm người đảm đương trách nhiệm này, nhưng chẳng ai làm nổi. Một lần, trong cuộc họp dân phố, họ biết đến ông Nhân, vận động mãi ông mới chịu và thỏa thuận rằng: “Tôi chỉ làm khi còn sức khỏe, cán bộ nhé!”. Nhận lời rồi, ông ra đó, cứ sáng sớm là quét dọn, nhặt cỏ, thị sát quanh di tích để nó sạch sẽ hơn. Người canh giữ ô cửa cuối cùng được mọi người nhớ đến. Không có lúc nào ông vắng mặt, ông như một người họa sĩ già tẩy xóa đi những cũ kỹ của thời gian để tô điểm thêm cho bức tranh của phố cổ Hà Thành. Theo một vị khách, cái tên “kỳ quặc” đã khiến nhiều người cảm mến cái ô cửa này mà tìm đến, như lưu dấu kỷ niệm về một Hà Nội cổ kính, xưa cũ, mà chẳng nơi nào có được.
Ông bảo: “Cứ tờ mờ sáng là tôi thức dậy để nấu nước, pha chè, rồi đi vòng quanh ô cửa nhắc nhở mọi người giữ vệ sinh, không vứt rác, không cãi cọ. Có một điều thúc giục nơi tôi là muốn giữ lấy những gì thân thương nhất. Đó là dấu ấn thời gian của cái ô cửa cuối cùng của Hà Nội, mà dù có nhiều năm tháng trôi qua cũng chẳng bao giờ tìm lại được”. Nghe ông nói thế, tôi đột nhiên nghĩ: “Ông cũng giống như Hà Nội lúc này, vừa sôi động, trầm lắng nhưng cũng đầy vàng son quê kệch. Một người bạn của tôi nói rằng mỗi lần đi qua ô Quan Chưởng, là thấy được linh hồn của phố cổ xa xưa. Theo cách nói dân dã của anh bạn thì cụ Tạ Nhân, dù ở tuổi 80 nhưng vẫn nặng lòng với cái di sản cổ xưa mà thời gian đã bỏ quên từ lúc nào không biết.
Ngọc Phúc